Home » KHI ĐẠO ĐỜI TƯƠNG ĐẮC – GS Lap Chuc Nguyen Huy

KHI ĐẠO ĐỜI TƯƠNG ĐẮC – GS Lap Chuc Nguyen Huy

KHI ĐẠO ĐỜI TƯƠNG ĐẮC

Lạp Chúc Nguyễn Huy

Cựu Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Sài gòn và Viện Đại Học Cao Đài

             Khi hai người tương đắc (hòa hợp với nhau) thì kết bạn tâm giao, lúc Đạo Đời tương đắc là lúc nở rộ bông hoa nhập Đạo, đó là cảnh cả triệu người ồ ạt nhập Đạo Cao Đài trong một thời gian rất ngắn, sau năm Khai Đạo 1926. Cảnh tượng Đạo Đời tương đắc trong Đạo Cao Đài  được coi như một phong trào nông dân quan trọng đầu tiên của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX[1].

Khi nghiên cứu Đạo Đời tương đắc của Đạo Cao Đài, các soạn giả tiếp cận Đạo Cao Đài thường giải thích theo quan điểm tây phương hoặc mác-lê và đều chỉ nhìn điều đó dưới góc độ kinh tế, xã hội, chính trị ( đói khổ, sưu cao thuế nặng, giai cấp thống trị đàn áp…) .

Quan điểm tây phương thí dụ như G. Goulet nói đến đức tính khoan dung tôn giáo của dân Việt và truyền thống Tam Giáo nên không có đối kháng của tín ngưỡng tại chỗ[2].

Quan điểm Mác-Lê: Theo tác giả Trần Văn Giàu,  Đạo Cao Đài phát triển là vì Tam Giáo yếu kém không đáp ứng mong mỏi của người dân[3]. Theo quan điểm tác giả cộng sản Đặng Nghiêm Vạn, Đạo Cao Đài nhập thế hiểu tâm lý xã hội nông dân đương thời, và « chỉ con đường giải thoát ức chế của cuộc sống thường ngày »[4]. Nguyễn Thanh Xuân thì giải thích « Bị áp bức bóc lột, bị đói khổ, bần cùng, lại bị thất bại bế tắc trong cuộc đấu tranh chống Pháp, một bộ phận nhân dân Nam Bộ đã đi tìm đến với tôn giáo, tìm đến với Đạo Cao Đài »[5].

Để giải thích Đạo Đời tương đắc phản ánh bởi phong trào nông dân qui theo Đạo Cao Đài mà không phân tích 3 sự kiện quan trọng : Thiên thời, địa lợi, nhơn hòa thì thật là thiếu sót.

Thiên thời

Chính Thượng Đế theo « Thiên định » mà Khai Đạo tại Việt Nam.  Người sáng lập Đạo là Đấng vô hình chứ không thể nhìn như nhiều soạn giả bàn về người sáng lập như một nhà chính trị tại thế.

Địa lợi

« Địa lợi » là cái nôi tín ngưỡng tiền Cao Đài. Trước khi Đạo Cao Đài khai sáng, từ thế kỷ XVII,  ba tỉnh của  Nam Kỳ Lục Tỉnh, : Gia Định (Tây Ninh, Sài Gòn), Vĩnh Long (Mỹ Tho, Bến Tre), An Giang (Bạc Liêu) đã nằm trong  một cái nôi tín ngưỡng. Cái nôi có hai lớp « vernis » tín ngưỡng phủ lên trên nằm phục sẵn chờ Thượng Đế đến khai hóa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại Việt Nam:

– Lớp « vernis » tín ngưỡng Tam Giáo (Phật, Lão, Khổng) bao bọc tâm hồn dân Việt tự ngàn xưa,

– Lớp « vernis » tín ngưỡng do lưu dân Hoa Kiều du nhập vào từ thế kỷ XVII : thờ Thờ Quan Công, thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế và cầu cơ của Ngũ Chi Minh Đạo.

Nhơn hòa

Khi Đạo-Đời tương đắc là lúc có thêm yếu tố nhơn hòa, là lúc nở bông hoa qui Đạo.

Bán thế kỷ đầu của thế kỷ XX được đánh dấu bởi hai phong trào lớn của nông dân tại Việt Nam : Phong trào nông dân nhập Đạo Cao Đài năm 1926 tại Nam Kỳ và phong trào nông dân đầu quân theo cộng sản trên toàn quốc gọi là cách mạng tháng tám 1945. Nói điều gì với nông dân mà tương đắc đến thế?  Đứng trước người nông dân chất phác ít học, sứ giả Cao Đài ít nói đến triết thuyết cao siêu thiên đàng giải thoát của Thượng Đế, sứ giả cộng sản không rao truyền  triết lý Mác-Lê mà cả hai chỉ nói điều đơn giản khích động tình cảm cao thượng như thương yêu (Đạo Cao Đài) hay dấy động tình cảm hận thù đấu tranh giai cấp (Việt Minh). Cả hai phong trào đều đi theo hướng chung đó mà thành công  thu hút nông dân đông đảo bằng áp dụng hai điều chính yếu sau :

– Cách mạng quan hệ giữa giới thống trị và nông dân,

– Chỉ cho nông dân con đường giải thoát.

– Cách mạng quan hệ quan chức- nông dân trong Đạo Cao Đài [6]

Chỉ rao giảng một điều đơn sơ là mọi người coi nhau như huynh đệ, tỷ muội, có Cha chung Thượng Đế và Mẹ chung Đức Diêu Trì là đủ thấm vào lòng người. Độc giả hãy tưởng tượng lại một cảnh Đạo Đời tương đắc như năm 1928, ông Nguyễn Văn Ca, tri phủ Chợ Mới, Mỹ Tho (đại diện giới thống trị) nhập Đạo, tiếp nhận chức Phối Sư khuyên mọi người đừng coi ông là quan lớn, mà là quan hệ huynh đệ. Chỉ một lời rao giảng đơn sơ này đã thu hút hơn 3000 tá điền của ông Ca theo đạo Cao Đài[7] .

Vùng Sài Gòn-Chợ Lớn, vào những năm 1928-1930, nhiều công chức, trí thức nhất là người lãnh đạo phong trào lập hiến như Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Dương Văn Giáo gia nhập Đạo Cao Đài và đã nói với nông dân rằng gia nhập Đạo Cao Đài :« sẽ không phải đóng thuế, không bị cường hào áp bức, sẽ được che chở…»[8]. Trong thời gian đầu truyền Đạo, đa số các đại chức sắc đều thuộc giai cấp thống trị (đốc phủ, tri huyện, đại địa chủ…) đã mang đến cho nông dân một sự che chở của giới thống trị  và của Thượng Đế về mặt tinh thần.

Ngoài ra Đạo Cao Đài cũng thu hút giới dân thành thị là nhờ giới lãnh đạo trí thức dùng báo chí quảng bá giáo lý Cao Đài và giảng giải cơ bút thí dụ như ông Nguyễn Phan Long, chủ tờ báo L’Écho annamite[9].

Chỉ đường giải thoát

Trước sự  áp bức bóc lột, đói khổ, bần cùng của nông dân, chính các chức sắc Cao Đài vừa là giới thống trị (quan chức, trí thức, điền chủ…) vừa là sứ giả của Thượng Đế đến chỉ con đường giải thoát bằng từ bi, bác ái để cùng nhau coi như huynh đệ về hiệp với Thượng Đế. Hành Đạo như vậy thử hỏi Đạo-Đời không « tương đắc » sao được?

Dưới đây là bảng đối chiếu hai phương pháp tiến đến thành công của 02 phong trào nông dân.

Đạo Cao Đài: Chức sắc (quan chức, địa chủ) -nông dân coi nhau như tình huynh đệ.

Tiến đến con đường giải thoát bằng tình thương, từ bi bác ái, hiệp hòa giữa giới thống trị và nông dân.

Việt Minh: Cán bộ-nông dân cùng coi nhau là đồng chí. Tiến đến con đường giải thoát bang bằng hận thù, đấu tranh gia cấp,

 

Ghi chu:
[1] Phong trào nông dân tiếp theo là Cách Mạng Tháng Tám của cộng sản

[2] G. Goulet, Cultes et religions de l’Indochine annamite, 1929, Saigon

[3] Trần Văn Giàu, Lịch sử phát triển tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX đến cách mạng tháng tám, tập II

[4] Đặng Nghiêm Vạn, Bước đầu tìm hiểu về đạo Cao Đài, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội. 1995

[5] Nguyễn Thanh Xuân, Đạo Cao Đài, hai khía canhh lịch sử và tôn giáo, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2013, tr. 49

[6] J.S.Werner, Werner, J. S. Peasant politics anh religious sectarianism: peasant and priest in the Cao Dai in viet Nam, Caodai overseas missionary, Washington D.C, 2004,  nhấn mạnh đến quan hệ giữa chức sắc (quan chức, địa chủ…) và tín đồ (nông dân và địa chủ)

[7] Blagov, Sergei, Caodaism, Vietnamese traditionalism and its leap into modernity, Nova, New York, 2001, tr. 49

[8] Nguyễn Thanh Xuân, sđd, tr.100

[9] Các báo phổ biến Đạo: L’Action indochinoise (1928), Revue caodaïste của Tòa Thánh Tây Ninh (1930, do Nguyễn Văn Ca sáng lập), Đuốc Chơn Lý (1933, chủ bút Nguyễn Van Ca), Đại Đạo (1936, chủ bút Lê Thế Vĩnh), Đại Đồng (1938 của Liên Hòa Tổng Hội)
Top of Form
Bottom of Form

Total Views: 1147 ,

Related posts:

NHỮNG NGÀY CUỐI CỦA TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU - KỲ V (Hết)
NHỮNG NGÀY CUỐI CỦA TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU - KỲ III
CÁC "MIỆT “ TẠI MIỀN NAM V. N.

Name of author

Name: Phan